Tư tưởng của giai cấp thống trị có phải là tư tưởng thống trị ?

Thần học Vatican được cho là đã lấy nhiều chất liệu từ triết học Hy-lạp

Ở các nước xã hội chủ nghĩa, dân thường dễ có cảm giác rằng giai cấp nào thống trị xã hội thì tư tưởng của giai cấp đó cũng sẽ là tư tưởng thống trị. Lịch sử thế giới ghi nhận những trường hợp ngược lại, nơi giai cấp thống trị văn hóa thấp bị đồng hóa bởi giai cấp bị trị có tư tưởng vĩ đại hơn.

Câu trả lời thời cổ đại và trung đại.

Đầu tiên phải kể đến tư tưởng của người Hy Lạp cổ đại, nơi có những tên tuổi khai sinh ra triết học như Platon, Aristotle. Từ rất sớm tại Hy Lạp, nền dân chủ đầu tiên trên thế giới ra đời: năm 500 trước Công nguyên , Cleisthenes đã thiết lập một nền dân chủ, quyền lực được chia hài hòa cho hội đồng các công dân nam giới của thành phố.

Năm 275 trước công nguyên, đế quốc La Mã hoàn thành công cuộc xâm chiếm Hy Lạp. Nhưng các tướng lĩnh La Mã bị “sốc” trước nền văn minh Hy Lạp, họ thừa nhận rằng trước mắt họ là một di sản văn minh quá đồ sộ. Tuy là lực lượng thống trị, đế quốc La Mã tiếp thu những giá trị tinh thần của người Hy Lạp. Hy Lạp được sát nhập vào quốc gia La Mã–Byzantine. Với một nền văn minh vượt trội, tiếng Hy Lạp trở thành ngôn ngữ chính của nước La Mã– Byzantine. Ảnh hưởng của tư tưởng Hy Lạp còn vươn sang tận thủ phủ của đế quốc La Mã. Thần thoại Hy Lạp, bộ thần thoại kinh điển, đã được các học giả La Mã tiếp biến thành bộ Thần thoại La Mã. Trong đó thần Dớt (Deus) được cải biên rất nhỏ để trở thành thần Giu-pi-tơ (Jupiter), về phong văn và các ý tưởng chính thì hoàn toàn dựa theo nguyên bản.

Vào năm 1453, quốc gia La Mã– Byzantine thất thủ và rơi vào tay Đế chế Ottoman. Dưới sự cai trị tàn bạo của nhà nước ngoại bang theo Hồi giáo, một bộ phận lớn trí thức người Hy Lạp đã nhập cư vào Tây Âu, chủ yếu là Ý– trung tâm chính trị và quân sự của đế quốc La Mã. Các triết gia Hy Lạp mang theo những tinh hoa tư tưởng đến đế quốc này. Tại nơi đây, ngay trong thể chế Giáo hoàng, các nhà thần học Thiên Chúa giáo La Mã nhận thức được tính ưu việt trong tư duy của di dân Hy Lạp. Để rồi, nhà thờ Thiên Chúa giáo và giáo lý Ki-tô đã thay đổi rất nhiều cho giống với các ý niệm cao siêu của giới triết gia Hy Lạp. Tư tưởng của dân Ý- tầng lớp thống trị, rốt cục chịu ảnh hưởng rất lớn từ một dân số di cư hết sức bé nhỏ. Không những vậy, những người Hy Lạp thứ dân này còn góp phần rất lớn trong Phong trào Phục hưng tại châu Âu, cuộc cách mạng văn hóa triệt để đưa châu Âu thoát khỏi “đêm trường trung cổ” và bước sang thời cận đại.

Thần học Vatican được cho là đã lấy nhiều chất liệu từ triết học Hy-lạp

Thần học Vatican được cho là đã lấy nhiều chất liệu từ triết học Hy-lạp

Ví dụ thứ hai, chuyện xảy ra ở Trung Hoa rộng lớn. Đầu thế kỷ XVII, dân tộc Mãn Châu hoàn thành xâm lược Trung Quốc , lập ra nhà Thanh, cai trị dân tộc Hán (1) . Triều đình Mãn Thanh có quyền sinh sát lên mọi người Hán, giới quý tộc Mãn Châu đẩy người Hán ra khỏi những vùng đất màu mỡ nhất. Triều đình mới gia tăng kiểm duyệt sách vở, đến nỗi chỉ cuốn sách nào nhắc đến chữ Minh ( đồng tự với hiệu của triều đình liền trước đã bị họ lật đổ) thì tác giả sẽ bị tù đày, vô số người lãnh án tử hình. Áp đặt xong nền toàn trị lên người Hán từ rất sớm, tộc Mãn Châu tràn trề hy vọng đồng hóa người Hán trong thời gian ngắn.

Nhưng rốt cục thì dân tộc Mãn Châu đã bị “xâm lược ngược” về văn hóa. Văn minh Hán đã ăn quá sâu vào người Hán. Những người Mãn có chức quyền nhất, khi sống lâu ngày trong một mảnh đất có nền văn minh có bề dày như thế cũng dần quen với lối sống người Hán. Cứ thế, người Mãn trở thành người Hán lúc nào không hay. Dân tộc Mãn ngày nay phần lớn đã bị đồng hóa, chủ yếu là với người Hán. Tiếng Mãn Châu ngày nay cũng gần như cũng không còn nữa. Chỉ có những người già sống ở các vùng nông thôn hẻo lánh ở bắc Trung Quốc hoặc vài học giả là sử dụng được ngôn ngữ này.

Bằng chứng thời hiện đại

Ngay ở thời hiện đại, nhân loại cũng chứng kiến nhiều nỗ lực áp đặt tư tưởng bất thành của nhà cầm quyền.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, trùm phát xít Aldof Hitler phát minh ra một thứ tư tưởng gọi là “dân tộc thuần khiết”. Thứ tư tưởng đó tuyên bố rằng người Đức vượt trội về mọi mặt và chỉ có dân Đức mới xứng đáng vị trí lãnh đạo toàn cầu. Hitler dễ dàng kêu gọi dân Đức do dân này có lòng tự tôn dân tộc rất cao, nhưng ông ta còn muốn dân Do Thái phải công nhận tư tưởng đó. Tuy nhiên, người Do Thái, với một nền tảng tư tưởng Do Thái giáo không bao giờ công nhận điều đó, vì Kinh Thánh bảo rằng chính họ mới là dân được Chúa chọn. Thành phần bị trị – dân Do Thái, nhất quyết không chịu khuất phục tư tưởng của nhà cầm quyền. Quân đội phát xít, do không được thỏa hiệp, đã tiến hành hành thảm sát dân Do Thái.

Ở phương Đông, xung đột tư tưởng vẫn còn rất nóng bỏng đến tận ngày nay. Chính phủ cộng sản Hoa Lục chiếm được Tân Cương, đem quân vào được vùng đất đó. Lính Trung Quốc nã đạn vào người Duy Ngô Nhĩ không bao giờ bị truy tố. Rõ ràng người Hán đã thống trị người Duy Ngô Nhĩ về thể xác. Bắc Kinh còn nghĩ ra cách mua chuộc một lượng lớn thanh niên Tân Cương bản địa và đem vào quân đội Trung Quốc. Nhưng không gì ngăn được những lứa trẻ em kế cận của người Duy Ngô Nhĩ nung nấu ước mơ khởi nghĩa. Người Duy Ngô Nhĩ tuy bị trị hơn nửa thế kỷ qua nhưng không hề có dấu hiệu là sẽ bị đồng hóa. Marxist hay Maoist chưa bao giờ là tư tưởng thống trị ở Tân Cương.

Phần đa người Tân Cương theo đạo Hồi, nhưng giáo lý có nhiều nét khác biệt so với đạo Hồi ở Trung Đông. Trước cách hành xử duy ý chí của quân đội giải phóng quân, người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ đã chủ động tìm đến sự giúp đỡ của nhà nước IS. Tân Cương luôn có những cuộc nổi dậy, con số mà Bắc Kinh công khai rất nhỏ so với những gì họ giấu giếm.

Hãy làm một phép so sánh. Nước Anh xâm lược và bảo hộ Thái Lan, nhưng người Anh cư xử đúng mực nên dân Thái không nổi dậy. Tư tưởng của người Anh rất dễ chịu và thuần lý, thực tế thì nước Anh đã tạo tiền đề cho thuộc địa phát triển. Cho đến ngày nay người Thái vẫn tri ân hoàng gia Anh. Riêng ở Tân Cương, dân bản địa khởi nghĩa triền miên, chứng tỏ tư tưởng của đảng cộng sảnTrung Quốc là phi nhân bản.

Những ví dụ thực tế trên đây, đủ để chứng minh rằng tư tưởng rất khó để ép buộc. Một nhà nước thông minh nhận thức được rằng điều gì hay, tốt đẹp và có lợi cho nhân loại thì nên để dân tộc tự tìm đến. Đối với những nhà nước bóp méo tư tưởng của người dân, chẳng hạn như nhà nước Bắc Kinh, những cuộc khởi nghĩa chống lại họ chỉ là vấn đề thời gian.

Trong bài này, tác giả tạm sử dụng danh từ chung “ dân tộc Hán” vì bắt đầu khi Hán vương Lưu Bang lên ngôi hoàng đế, đa số dân Trung Quốc nhận mình như vậy. Thực tế Trung Quốc là nước đa sắc tộc.
Một số thuật ngữ trong bài, tác giả chuyển cách dùng từ chính xác sang những từ ngữ bình dân .

Diễn đàn Triết học

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: