Quyền lực trị quốc và vai trò Quân vương

Quyền lực trị quốc và vai trò Quân vương (Ảnh minh họa)

Dùng cấp dưới để hiện thực hóa ý tưởng, dựa vào thần dân để củng cố ngai vàng, chỉ có vậy quyền uy của Quân vương mới thực sự vững bền.

Hơn chục năm trước, bộ phim “Tể tướng Lưu Gù” lần đầu tiên công chiếu tại Việt Nam, bộ phim xoay quanh ba nhân vật có thật trong lịch sử Trung Hoa là Càn Long, Hòa Thân và Lưu Dung.

Lưu Dung không đồng tình khi Càn Long cho xây dựng một ngôi chùa trong lúc dân vùng sông Hoài chết đói vì lũ lụt.

Cứ mỗi lần kêu gọi “Hoàng thượng, hãy lấy dân làm gốc!”, Lưu Dung lại bị hạ phẩm hàm nhưng không vì thế Lưu Dung ngừng kêu, kể cả đến lúc bị lột hết mũ áo trở thành thường dân, bị đuổi ra khỏi cung điện.

Mặc dù vậy, không thể nói nhờ Lưu Dung mà thời Càn Long trị vì được xem là một trong những thời kỳ huy hoàng của lịch sử Trung Hoa.

Càn Long là vị vua thọ lâu nhất và tại vị lâu nhất trong lịch sử Trung Hoa nhờ có trung thần Lưu Dung và tham quan Hòa Thân.

Quyền lực trị quốc và vai trò Quân vương (Ảnh minh họa)

Quyền lực trị quốc và vai trò Quân vương (Ảnh minh họa)

Sa hoàng Pie Đại đế được người Nga tôn sùng là vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử nước Nga.

Mặc dù vậy, ông vẫn bị các sử gia đánh giá là vị vua độc đoán đến tàn bạo.

Trước thời Pie, nước Nga vô cùng lạc hậu, Giáo hội chính thống Nga tạo nên niềm tin tôn giáo gần như tuyệt đối.

Để canh tân đất nước, một trong các mục tiêu công kích đầu tiên của Pie là Giáo hội, ngài tiến hành cải cách Giáo hội và tiến tới giành quyền kiểm soát nó.

Mặt khác ngài chọn con đường cải cách từ thượng tầng, tạo ra một đội ngũ quý tộc mới với kiến thức du nhập từ phương Tây, dùng đội ngũ này như những thuộc hạ trung thành để khai phóng dân trí, đưa nước Nga trở thành một thế lực mà bất kỳ quốc gia nào cũng phải kiêng dè.

Đấy là hai vị quân vương, một ở châu Á và một ở nước nửa Âu nửa Á.

Sang lục địa già, Raymond Aron (1905-1983) sử gia nổi tiếng người Pháp, giáo sư trường Sorbonne, trong lời giới thiệu tác phẩm Quân vương của tác giả người Ý Niccolo Machiavelli, đã đánh giá “Michiavel là người sáng lập ngành khoa học chính trị”.

Nhận định vai trò của người lãnh đạo, Niccolo Machiavelli viết: “Người lãnh đạo có tài đức biết tiên đoán được những việc dở, khi nó xảy ra là có phương cách đối phó ngay.

Nếu không biết nhìn trước đoán sau, để cho việc dở phổ biến đến mức ai ai cũng thấy thì lúc đó không còn phương thuốc nào cứu chữa nổi”. (chương 3: Những vương quốc hỗn tập)

Những người đã học qua môn Toán cao cấp sẽ thấy trong lập luận của Michiavel quan hệ “một đối một hai chiều” nghĩa là trong một quốc gia, khi việc dở “phổ biến đến mức ai ai cũng thấy rõ” thì có nghĩa lãnh đạo không phải là người tài đức.

Tuy nhiên Raymond Aron không đồng tình với nhận định của Michiavel, rằng việc dở đến mức ai ai cũng thấy rõ thì “không còn phương thuốc nào cứu chữa nổi”.

Ông cho rằng: “Mang thanh bình, trật tự đến cho một lãnh thổ đương sống trong cảnh hỗn loạn thì chỉ có thể là một lãnh tụ tàn nhẫn và mẫn cán. Khi thái bình trở lại phải thay thế bằng một vị “quân dân chính” có đức độ mới có lợi cho tình hình chung trong xứ”. [1]

Có thể thấy ngôn từ mà Raymond Aron sử dụng cũng trần trụi như chính ngôn từ mà Niccolo Machiavelli đã dùng.

Vấn đề là ở chỗ, người ta không thể phản đối tính chính xác trong lập luận của Raymond Aron nhưng lại cũng rất khó thuyết phục mọi người, nhất là những người thích dân chủ tán thưởng lập luận đó.

Lý lẽ của Raymond Aron đưa chúng ta tới một câu hỏi, mà có lẽ đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng, rằng làm thế nào “khi thái bình trở lại” có thể thay thế một “lãnh tụ tàn nhẫn và mẫn cán” bởi một “vị quân dân chính có đức độ”?

Phải chăng thần dân trong vương quốc lại phải “kết bè kéo cánh” hay nhà độc tài sẵn sàng chuyển giao quyền lực trong hòa bình?

Lịch sử cho thấy, sự chuyển giao quyền lực một cách hòa bình dường như không phải là lựa chọn ưu tiên của phần lớn quân vương hay thế lực nắm quyền cai trị.

Ông Vũ Ngọc Hoàng – Phó Trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng:

“Xưa nay, rất ít khi những người có quyền lực lại tự giới hạn hoặc từ bỏ quyền lực của chính mình; ngược lại luôn muốn tăng thêm, không muốn ai kiểm soát mình”. [2]

Chính trị gia luôn hành động hướng tới thành công theo nghĩa cá nhân trước công chúng đương thời, không mấy người khi nắm quyền bính trong tay lại luôn tự hỏi, rồi đây hậu thế sẽ đánh giá mình là minh quân hay bạo chúa?

Nói rằng quân vương hay chính trị gia không bao hàm “cái tôi” trong hành động thường là suy nghĩ nặng tính sùng bái cá nhân hơn là khách quan.

Loại bỏ yếu tố cá nhân trong chính trị là điều ngây thơ cũng như nói thần dân và Quân vương đều có quyền như nhau.

Sự thành công của chính trị gia bao giờ cũng đòi hỏi những hành động chưa có tiền lệ, thậm chí còn là trái đạo lý. Người lãnh đạo khước từ sự thành công đương nhiên là kẻ chiến bại.

Vấn đề là ai sẽ chịu hy sinh danh dự cá nhân, ai là người có đủ nhẫn nại nghe lời xỉ vả của dân chúng để cứu vãn quốc gia, dân tộc những lúc nguy khốn?

Đặt câu hỏi đã khó, trả lời lại khó gấp bội bởi câu trả lời không thể tìm thấy nơi các quân sư hoặc các nhà lý luận. Người không lắm thủ đoạn, không đủ gian hùng hoặc là không biết trả lời hoặc là không đủ dũng khí để trả lời.

Xã hội hiện đại, khi luật pháp càng ngày càng hoàn thiện, khi chế độ quân chủ cổ điển chuyển dần thành quân chủ lập hiến thì sự tại vị dài hay ngắn của người đứng đầu chính quyền không còn nhiều ý nghĩa, nó bị chi phối bởi khái niệm nhiệm kỳ của luật pháp, bởi tài năng lãnh đạo và ý muốn của quần chúng cần lao.

Trong lời mở đầu tác phẩm Quân vương, Nicolas Machiavel viết: “Thường lệ những kẻ nào muốn được lòng ưu ái của đấng Quân vương đều phải đích thân diện kiến và dâng biếu một lễ vật gì quý giá nhất trong kho tàng riêng của mình”.

Tuy nhiên sẽ chẳng có thuộc hạ nào dâng “lễ vật gì quý giá nhất” là mạng sống của mình cho Quân vương nếu không nhận được những bảo đảm chắc chắn cho tương lai gia đình và dòng tộc mình.

Khi Quân vương trở thành kẻ chuyên quyền, ngai vàng được gia cố bằng ngục tù và bạo lực thì không chỉ thần dân xa lánh, ngay bọn thuộc hạ thân tín cũng sẽ nhảy khỏi thuyền dù nước mới chỉ mấp mé.

Xuất phát từ thực tế đó, lời khuyên cho Quân vương của Nicolas Machiavel là:

“Chúa công lúc nào cũng nên cùng với dân gian, cùng lo, cùng tính tất cả các việc trong nước phòng khi xảy ra biến cố dù hay, dù dở thì họ (thần dân) sẽ không nghĩ tới việc cần thiết phải thay vị đổi ngôi đối với Quân vương”.

Đến đây thì Nicolas Machiavel đã phải thừa nhận rằng, thần dân chứ không phải thuộc hạ mới là người cho phép quân vương duy trì địa vị thống lĩnh của mình.

Ngày nay, giới tinh hoa phân chia nhân loại thành các giai cấp: Tư sản, Công nhân, Nông dân, Trí thức… Cũng có thể, để hạ thấp địa vị Trí thức, người ta coi Trí thức chỉ là một tầng lớp chứ không phải giai cấp. Ngày nay tại nhiều công xưởng khắp thế giới, số kỹ sư nhiều hơn hẳn số thợ lành nghề.

Thật ra đã đến lúc, sự phân chia giai cấp trở nên không còn hợp lý. Người công nhân ngày nay cần kiến thức chẳng kém gì một cử nhân hay kỹ sư, ngược lại kỹ sư có thể phải đảm đương công việc như một công nhân thực thụ.

Nền kinh tế tri thức đang hình thành cho thấy đại diện cho phương thức sản xuất mới, tiên tiến chính là trí thức, chính là những người được đào tạo nghiêm túc từ các cơ sở giáo dục đại học, trên đại học.

Công nhân, nông dân cũng phải học, cũng phải tiếp thu các kiến thức khoa học nếu không muốn mãi mãi sống kiểu hái lượm trong nhà máy hay trên chính cánh đồng của mình.

Từ góc độ phát triển, sự tập trung dân cư và đô thị hóa mạnh mẽ sẽ dần dần khiến sự phân chia giai cấp kiểu cũ không còn thích hợp, xã hội sẽ đến lúc chỉ còn lại hai tầng lớp, Bình dân và Trưởng giả, và đương nhiên tâm trạng của hai tầng lớp này là khác nhau.

Hy vọng về một xã hội mọi công dân đều có quyền và nghĩa vụ như nhau được khuyến khích bởi một số triết gia, song nhân loại chưa bao giờ được chứng kiến một xã hội công bằng lý tưởng như vậy.

Tầng lớp Bình dân tất yếu không muốn bị Trưởng giả hà hiếp, còn Trưởng giả thì luôn thèm muốn đè đầu cưỡi cổ Bình dân. Đó sẽ là mâu thuẫn và đó cũng là động lực cho xã hội phát triển.

Không loại trừ sự phát triển sẽ kéo theo tình trạng lộn xộn tại một thời điểm nào đó ở thì tương lai, tuy nhiên đó chỉ là tình trạng nhất thời chứ không phải mạch phát triển chủ đạo của xã hội.

Khi chỉ còn tồn tại Bình dân và Trưởng giả thì Quân vương hoặc là được Trưởng giả hiệp thương đặt vào ngai vàng, hoặc là được giới Bình dân suy tôn.

Một cá nhân có khả năng ban cho các Trưởng giả quanh mình bổng lộc, hoặc bằng cách làm ngơ cho chúng vơ vét, bóp hầu bóp cổ Bình dân có thể sẽ giành thắng lợi nhất thời vì cánh Trưởng giả sẽ hùa nhau đưa người đó trở thành Quân vương.

Tuy vậy, đó lại là con dao hai lưỡi bởi giới Trưởng giả quá hiểu sức mạnh của quân vương từ đâu mà có.

Thỏa mãn lòng tham không đáy của Trưởng giả, Quân vương phải làm ngơ để họ lộng hành và đương nhiên phải đẩy thiệt hại về phía Bình dân.

Chỉ cần một động thái cỏn con chĩa vào lợi ích Trưởng giả có thể gây nên phản ứng dây chuyền, nhẹ là không vâng lời, nặng là họ kết bè kéo cánh tìm người thay thế.

Nếu được Bình dân bầu chọn lên ngôi vị Quân vương, đương nhiên sẽ được Bình dân lắng nghe, một lời hô, triệu lời hưởng ứng.

Dù thế Quân vương cũng không thể đối nghịch một cách tuyệt đối với Trưởng giả, cũng không thể thể thỏa mãn mọi tham vọng của Trưởng giả, bởi lẽ dân hèn sẽ không chịu để Trưởng giả hà hiếp.

Ý nguyện của Bình dân, tầng lớp chiếm số đông trong xã hội có thể chưa đạt đến trình độ tiên tiến nhưng chắc chắn là lương thiện. Mong muốn của Bình dân rất đơn giản, như Nicolas Machiavel viết: “Bởi vì dân không đòi hỏi gì hơn là đừng có áp chế họ”.

Dòng sông lịch sử với đôi bờ Trưởng giả và Bình dân, Quân vương như con thuyền giữa dòng, dạt vào bờ Trưởng giả có thể bị sóng phía Bình dân đánh đắm, dạt vào phía Bình dân có nguy cơ mắc cạn.

Muốn đưa con thuyền ra biển lớn, Quân vương phải quả cảm, can trường, phải bằng uy tín và hành động mà khiến thuộc hạ nghe lời, khiến thần dân tin tưởng.

Quân vương nhìn xa thấy rộng còn phải biết lựa chọn tinh hoa trong đám bình dân để bổ sung vào hàng ngũ thuộc hạ, nếu chỉ chọn trong số con cháu, bạn bè đồng hương, đồng khói thì không khỏi kéo theo sự bất mãn của Bình dân.

Thuộc hạ đông không phải là tốt vì Quân vương không có thời gian để mắt tới tất cả bọn chúng, mặt khác khi Bình dân phải đóng góp quá nhiều nuôi dưỡng bọn này thì đó chính là mầm họa.

Dùng thuộc hạ để duy trì quyền lực cũng như xây lâu đài trên cát, nhưng chỉ dựa vào bình dân chẳng khác nào bịt một bên mắt mà đi bởi tầm nhìn của Bình dân không phải luôn vừa xa, vừa rộng.

Quân vương phải có đủ mưu mẹo, thủ đoạn để trấn áp thuộc hạ láu cá khiến họ sợ hãi mà vâng lời.

Không vứt bỏ kẻ láu cá nhưng phải luôn để mắt tới, không được để họ lộng hành khiến Bình dân phẫn nộ.

Dùng thuộc hạ để hiện thực hóa ý tưởng, dựa vào thần dân để củng cố ngai vàng, chỉ có vậy quyền uy của Quân vương mới thực sự vững bền.

Quân vương quy tụ được hai yếu tố: tài năng và đức độ, không run sợ trước nguy nan, biết ban bố sự nghiêm khắc nhưng không tàn bạo, lấy bản thân làm gương cho kẻ quanh mình noi theo thì Quân vương sẽ được thần dân bảo vệ.

Trên đời này ít Quân vương làm được điều đó nhưng không phải là không có

Xuân Dương

Tài liệu tham khảo:

Vnthuquan.net

Vietnamnet.vn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

w

Connecting to %s

%d bloggers like this: